Ông có thể nói rõ hơn sự tác động gián tiếp của đầu tư chéo, sở hữu chéo tới dòng vốn cho DN? Mối ác hại lớn của việc đầu tư chéo, sở hữu chéo là đa số vốn trung và dài của nhà băng lại tụ họp vào 1 số nhóm người và DN
Trong khi đó, cơ quan thanh tra của ngân hàng lại không có chức năng điều tra, thí dụ như nếu nghi ngờ ông chủ sở hữu nhờ ai đứng tên cổ phần, khoản vay…, cơ quan thanh tra cũng không thể đề nghị người bị ngờ tới để điều tra được. Ba là mặc dầu vấn đề này vi phạm nghiêm trọng quy định của Luật Các TCTD là không được cho vay người có liên tưởng nhưng thực tại những người chủ sở hữu đang lách bằng nhiều cách, thí dụ nhờ người khác đứng tên DN, cổ phần của mình hay tên các khoản vay… ngân hàng là ngành nhạy cảm nên không dễ dàng đưa công tác điều tra của ngành Công an vào được vì ảnh hưởng đến tâm lý người dân.
DN không có khó khăn về thị trường cũng không dám vay bởi trong 6 tháng DN không kịp xoay chuyển gì cả còn những DN có khó khăn về thị trường thì chắc chắc không dám vay với kỳ hạn này. Khi trái phiếu bắt nguồn từ các ông chủ nhà băng huy động vốn cho chính mình để góp tiền tăng vốn vào nhà băng này, nhà băng khác mà không kiểm soát được mục đích thì sẽ tạo thành rủi ro lớn cho hệ thống.
Thực trạng đầu tư chéo, sở hữu chéo đang được đặt ra là một vấn đề báo động. Những trái phiếu này được phát hành vào năm 2008, 2009 và đến 2014, 2015 là đáo hạn và một phần trong số đó dự kiến chuyển thành nợ xấu. Thí dụ một ngân hàng có 10 ngàn tỷ thì nhà băng Nhà nước chỉ cho 3 ngàn tỷ để cho vay trung dài hạn.
Theo ông, vấn đề này ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế? Khi nói về đầu tư chéo cần phải đặt câu hỏi tiền ở đâu ra để đầu tư chéo, đồng tiền ấy có phải bằng mồ hôi của nhà đầu tư không hoặc được lấy ra từ tiền gửi của người dân tại ngân hàng mà họ đang làm chủ. Xin cảm ơn ông! Hồ Huệ (thực hiện). Trong khi tín dụng vẫn kiểm soát được mục đích sử dụng, kiểm soát tiến độ, giám định dự án, có tài sản đảm bảo… thì trái khoán DN không biết được mục đích sử dụng, thậm chí nhiều ngân hàng thương nghiệp mua trái khoán nhưng không biết ông chủ dùng trái khoán làm việc gì, không có bẩm về tiến độ dùng tiền tài trái phiếu… Thực trạng này sẽ góp phần tạo thành rủi ro lớn nhất của hệ thống ngân hàng là cho vay người có liên hệ và một đôi cổ đông thống lĩnh một ngân hàng thương mại.
Kẽ hở hiện về pháp lý đối với trái phiếu DN là không kiểm soát được mục đích dùng của trái khoán. Ba ngàn tỷ này rơi vào tay của ông chủ và những người liên can thì nền kinh tế không còn vốn để vay.
TS. Như vậy, nhà băng chỉ còn cách cho vay bằng những khoản vay ngắn hạn 6 tháng. Hai là đa số vốn tập kết vào bất động sản mà nhiều khả năng đang trở nên nợ xấu. Nhà băng cho DN vay trong hạn 6 tháng thì không DN nào dám vay. Vậy giải pháp cho vấn đề nợ xấu trái khoán này là gì, thưa ông? Việc xử lý nợ xấu trái phiếu cũng sẽ được VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các TCTD) xử lý chung như nợ xấu tín dụng nếu nợ xấu trái khoán có tài sản đảm bảo.
Lê Xuân Nghĩa. Theo ông, có sự rủi ro nào đối với nền kinh tế trong số lượng trái phiếu này không? Ngoài phần nợ xấu ngân hàng từ tín dụng hiện thời, dự định sắp tới sẽ có nợ xấu trái khoán với số lượng khá lớn.
Theo nghiên cứu của chúng tôi, hiện vòng quay của đồng bạc là 0,81 đ/năm tức thị 10 tháng tiền mới quay được 1 vòng.
Trong quá trình huy động vốn để tăng cổ phần hay phần vốn của mình tại các ngân hàng, các ông chủ duyệt y công ty con của mình phát hành trái phiếu DN. Từ việc lợi dụng mình có đầu tư vào ngân hàng này, nhà băng kia, một vài người đã huy động được vốn vào những DN thuộc tập đoàn của mình hay cho vay những người có liên can, anh em họ hàng… phần lớn khoản cho vay những người hệ trọng đều là khoản vay trung và dài hạn trong khi vốn của một ngân hàng cho vay trung và dài hạn là khá eo hẹp.
Tuy nhiên nợ xấu của trái khoán khó xử lý hơn bởi nhiều trái phiếu không có tài sản thế chấp bởi hầu như “tài sản bảo đảm” của trái khoán là giá trị của công trình đầu tư trong khi hiện nay nhiều công trình còn dang dở, không có giá trị gì.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét