Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

Sự tích những người vui vui được dân phong làm Trạng.

Trạng Toán: Vũ Hữu người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, thừa tuyên Hải Dương (nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, Hải Dương) đỗ Hoàng giáp khoa Quý Mùi (1463) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Thượng thư bộ Lễ, tước Tùng Dương hầu

Sự tích những người được dân phong làm Trạng

Do có công giúp vua đánh thắng sứ nhà Thanh liên tục ba ván cờ nên ông được vua thưởng hậu và ban cho danh hiệu “Đấu kỳ Trạng nguyên”, dân gian thì gọi ông là Trạng Cờ rồi đặt câu ca tụng: “Rượu làng Mơ, cờ Mộ Trạch” ý nói rượu ngon nhất thuộc về làng Mơ, không đâu vào đâu cao cờ bằng dân Mộ Trạch. Do làng Đại Toán quê ông có tên Nôm là làng Tỏi nên cõi tục gọi Nguyễn Đăng là Trạng Tỏi, dân gian còn lưu truyền câu đối nức danh về ông: Vó vó, te te, võng Tiến sĩ/ Hành hành, tỏi tỏi, kiệu Trạng nguyên và câu: Phú ông Tỏi, hỏi làm chi? Trạng Ăn: Lê Nho Khoa người làng Đại Mão, huyện Thuận Thành, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc Hoài Thượng, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh) đỗ tấn sĩ khoa Đinh Sửu (1634) đời Lê Thần Tông, sau làm quan đến chức Lang trung bộ Lễ.

Theo PNTD. Vua Lê Thánh Tông đã đặc ban cho ông 2 chữ “liêm khiết”, mỗi khi vào chầu thì gắn tấm vải thêu 2 chữ đó lên cổ áo để nêu điểm khác người. Người ta còn tụng ca rằng, mộ tổ nhà ông nằm ở một quả núi tròn trông giống như quả cầu nên Đinh Lưu mới có đặc tài như vậy. Trạng Ăn: Lê Như Hổ người Thôn Vông, xã Tiên Châu, huyện Tiên Lữ, phủ Thượng Hồng, xứ Hải Dương (nay là xã Hồng Lam, huyện Tiên Lữ, Hưng Yên) từ nhỏ đã nổi danh thông minh, hiếu học lại có sức khỏe, khi trưởng thành ông có vóc dáng to lớn, khôi ngô, vạm vỡ.

Do làng Đức Lạp quê ông có tên Nôm là Kẻ Lép nên người dân mới gọi Triệu Nghị Phù là Trạng Lép, chữ Lép vừa là tên Nôm của làng, lại vừa có ý chỉ sự việc bị truất danh hiệu Trạng nguyên của ông. Đương thời rất kính trọng gọi ông là Trạng Liêm (Trạng liêm khiết). Dưới đây là đôi nét về các ông Trạng dân phong. Xét về điểm số thì khoa thi này Triệu Nghị Phù đỗ cao nhất nhưng ông lại bị truất học vị Trạng nguyên và bị phê là: “Văn nghị Trạng nguyên, bị truất” (nghĩa là: bài văn đáng đỗ Trạng nguyên nhưng bị truất bỏ), căn nguyên là khi vua hỏi về thế gia, quê quán, ông đối đáp kém nên vua không muốn có vị Trạng nguyên ứng xử tục tằn trong triều đình.

Biết ông là người ăn khỏe, vua ban tiệc khen thưởng, khi ấy Lê Nho Khoa đã gần 50 tuổi, mình ông ăn hết một mâm xôi và một con lợn quay lớn khiến vua cùng quần thần rất ngạc nhiên; vì yêu quý và mến tài nên về sau vua Lê Thần Tông thường thưởng đồ ăn cho ông.

Trạng Liêm: Vũ Tụ người làng Hoạch Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, thừa tuyên Hải Dương (này thuộc xã Thái Học, huyện Bình Giang, Hải Dương) đỗ Hoàng giáp khoa Quý Sửu (1493) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Tả thị lang bộ Hình, lừng danh là người thanh liêm, trong sạch và cần kiệm.

Trạng Vật: Nguyễn Doãn Khâm người làng Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, xứ Hải Dương (nay thuộc xã Văn An, huyện Chí Linh, Hải Dương) đỗ Hoàng giáp khoa Kỷ Mùi (1559) đời Mạc Tuyên Tông, làm quan đến chức Thượng thư kiêm Đô Ngự sử. Vua Lê Thánh Tông rất sửng sốt khen Vũ Hữu là Thần Toán và ban thưởng 100 mẫu ruộng lộc điền, còn dương thế gọi ông là Trạng Toán.

Ông là người học rộng, kiến thức thông thái, tác phẩm lớn nhất của ông là bộ “Đại Việt thông giám thông khảo” gồm 26 quyển và cuốn “Tân đính Lĩnh Nam chích quái”. Bái phục nhân tài, đức độ của Vũ Quỳnh và do làng Mộ Trạch có tên Nôm là làng Chằm nên dân gian gọi ông là Trạng Chằm (Trạng làng Chằm).

Do đó, Triệu Nghị Phù bị truất xuống hàng thứ 5 ở đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, tức là tụt xuống 7 bậc học vị. Vũ Quỳnh chính là con trai của Trạng Toán Vũ Hữu và là bố vợ của trạng nguyên Lê Nại (người có biệt danh là Trạng Ăn).

Mọi người rủ nhau đến hỏi kinh sách, hỏi gì đáp nấy, giảng giải rành khiến ai cũng nể phục.

Do làng Phùng Xá quê ông có tên Nôm là làng Bùng nên trần thế quen gọi ông là Trạng Bùng. Do ăn khỏe nên tuy làm quan văn nhưng ông sức vóc to lớn, năm Bính Tuất (1646) vì có công đánh dẹp phỉ, lại có tiếng là thành liêm, ghét kẻ tư túi nên Lê Nho Khoa được triệu về kinh làm việc.

Dân gian kính phục gọi ông là Trạng Ăn. Trạng Bùng: Phùng Khắc Khoan người làng Phùng Xá, huyện Thạch Thất, thừa tuyên Sơn Tây (nay thuộc huyện Thạch Thất, Hà Nội), đỗ Hoàng giáp khoa thi năm Canh Thìn (1580) đời Lê Thế Tông. Năm Giáp Dần (1314) đời Trần Minh Tông thi đỗ Thái học trò, sau làm quan đến chức Thượng thư hữu bật, Nhập nội hành khiển. Trạng Cờ: Vũ Huyên (có sách chép là Vũ Huyến) quê gốc ở làng Mộ Trạch, trú tại làng Đan Luân, huyện nha An, phủ Thượng Hồng, xứ Hải Dương (nay thuộc xã Nhân Quyền, huyện Bình Giang, Hải Dương) đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1712) đời Lê Dụ Tông, làm quan đến chức Đông Các hiệu thư.

Một lần trên đường về quê, đi qua một sới vật ở làng Giao Tất (nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội) nghe nói có đô vật đã giữ giải 3 ngày mà chưa ai thắng nổi, Nguyễn Doãn Khâm cởi bỏ quan phục vào sới tỉ thí, chẳng mấy chốc đã lựa thế quật ngã đô vật kia, mọi người đến trao giải nhưng ông không nhận mà chỉ xưng tên họ, chức phận rồi lên ngựa đi thẳng.

Ngoài tài văn thơ, ông còn là người giỏi cưỡi ngựa, bắn cung, nhất là giỏi đá cầu và từng đá cầu chúc thọ vua Lê Hiến Tông. Câu chuyện lừng danh nhất về ông là việc tính nguyên liệu dùng để tôn tạo 3 cửa Đoan Môn, Đông Hoa và Đại Hưng của đế kinh Thăng Long không thừa, không thiếu một viên gạch.

Là người được đánh giá có tài “kinh bang tế thế, đức độ khoan dung”, Phùng Khắc Khoan viết lên nhiều tác phẩm thi văn nức danh.

Trạng Ngọt: Hứa Tam Tỉnh người làng Vọng Nguyệt (tên Nôm là làng Ngọt), huyện Yên Phong, phủ Thuận Thành, trấn Kinh Bắc (nay thuộc xã Tam Giang, huyện Yên Phong, Bắc Ninh).

Sau này Lê Tư làm quan đến chức Lại bộ đoán sự trung, dân gian phục thiên tài của ông nên gọi là Trạng Chữ. Đi sứ phương Bắc, ông đánh chén tì tì hết sạch mâm cỗ cao 18 tầng khiến vua quan nhà Minh trố mắt, sửng sốt.

Tục truyền tay dài quá gối, đấu vật thì ít ai địch nổi, cho nên lúc làm quan trong triều ngay cả các đô lực sĩ của vua cũng không mấy người dám đọ sức cùng ông.

Trong chuyến đi sứ này, Lê Như Hổ học được nghề làm dù đem về truyền lại cho dân, cho nên về sau được tôn làm tổ tiên nghề làm dù nước ta.

Có nhiều giai thoại về tài ăn khỏe của ông như lần đãi một người bạn 2 mâm cỗ lớn với 4 con lợn béo, 4 chõ xôi to nhưng bạn chỉ ăn được một phần nhỏ còn Lê Như Hổ dùng hết mâm của mình rồi chuyển sang ăn hết mâm kia.

Ông còn là người có công lớn với nhân dân, 2 lần đi sứ phương Bắc ứng đối linh hoạt, đề cao uy lực Quốc gia, cũng qua những lần đi sứ này, Phùng Khắc Khoan đưa các giống ngô, đỗ, khoai, vừng… về nhân rộng trên đồng ruộng ở quê hương; ông còn học được cách dệt the lượt, dệt lụa và cách làm một số nông cụ đem truyền dạy cho dân. Khi chưa đỗ, có lần lên kinh thành thăm anh là Trạng nguyên Lê Nại, ông nói với các sĩ tử rằng: Ta đây là bồ chữ, các anh muốn hỏi chữ gì, sách gì thì lại đây ta sẽ chỉ cho.

Trạng Chữ: Lê Tư (có tên khác là Lê Tài) người làng Mộ Trạch, huyện nha An, phủ Thượng Hồng, thừa tuyên Hải Dương (nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, Hải Dương) đỗ Hoàng giáp khoa thi năm Tân Mùi (1511) đời Lê Tương Dực. Trạng Cầu: Đinh Lưu người làng An Dật, huyện Thanh Lâm, phủ Thượng Hồng, thừa tuyên Hải Dương (nay thuộc xã Thái Tân, huyện Nam Sách, Hải Dương) đỗ Thám hoa khoa Bính Thìn (1496) đời Lê Thánh Tông, khi đó ông mới 17 tuổi, sau làm quan đến chức Đông các đại học sĩ.

Hồi nhỏ vì nhà nghèo nên Lê Quát phải làm nghề quét chợ để kiếm sống, mọi người quen gọi là anh Quét, thành ra sau khi đỗ đạt, người dân quê hương phục tài chí nên gọi Lê Quát một cách thân mật là Trạng Quét. Nhà nghèo không đủ ăn nên Lê Như Hổ ở rể một nhà ấm no, mỗi bữa ông ăn hết nồi cơm thổi 16 đấu gạo, ăn càng nhiều học càng chăm.

Trong lịch sử toán học nước ta, Vũ Hữu cùng với Lương Thế Vinh được coi là bậc kỳ tài, công trình toán học trội của ông là cuốn “Lập thành toán pháp” hướng dẫn phương pháp chia, tính ruộng nương, cách đo đạc, xây dựng nhà cửa, thành lũy. Khoa thi năm Tân Sửu (1541) đời Mạc Hiến Tông, ông đỗ Tam giáp tấn sĩ, sau làm quan đến chức Thượng thư bộ Binh.

Tục truyền từ khi sinh ra trên trán Vũ Huyên có chỗ xương nhô lên trông giống như quân cờ; đến tuổi trưởng thành ông có tiếng tài giỏi về thi văn và tinh thông, xuất chúng môn cờ tướng.

Trạng Chằm: Vũ Quỳnh quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, thừa tuyên Hải Dương (nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, Hải Dương) đỗ Hoàng giáp khoa Mậu Thìn (1478) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Thượng thư bộ Lễ, bộ Công, bộ Binh kiêm Tổng tài sử quán, Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Trạng Tỏi: Nguyễn Đăng, người làng Đại Toán, huyện Quế Dương, trấn Kinh Bắc (nay thuộc xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, Bắc Ninh) đỗ Hoàng giáp khoa Nhâm Dần (1602) đời Lê Kính Tông, sau làm quan đến chức Tả thị lang bộ Hộ.

Chính bởi tài đấu vật mà dân gian gọi ông là Trạng Vật. Dân gian khen ngợi Đinh Lưu là bậc kỳ tài đá cầu lại là người có dũng khí và tự tín nên tôn ông là Trạng Cầu. Năm Quý Sửu (1613) ông đi sứ nhà Minh, do có tài ứng đối, ngâm vịnh và đặc biệt làm bài phú tụng ca vẻ đẹp chùa Phi Lai ở tỉnh Chiết Giang khiến người Minh rất thán phục, vua Minh phong ông làm Trạng nguyên rồi sai người khắc bài phú đó vào bia đá dựng tại chùa.

Từ nhỏ ông đã nức tiếng ăn khỏe, dù nhà nghèo nhưng ba má cũng cố lo cho con ăn uống không đến nỗi bị đói, nếu ăn ba thăng gạo (1 thăng bằng khoảng 7-8 lạng).

Trạng Quét: Lê Quát (có tên khác là Lê Bá Quát) người làng Phủ Lý, huyện Đông Sơn, lộ Thanh Hoa (nay thuộc xã Thiệu Trung, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa) nức tiếng về tài thơ văn, chuộng chính học, ghét mê tín dị đoan.

Mặc dầu không đạt học vị cao nhất, nhưng dân gian vẫn ca tụng, khâm phục mà gọi Hứa Tam Tỉnh là Trạng Ngọt và còn lưu truyền câu ca: “Trạng Me đè Trạng Ngọt”. Trạng Lép: Triệu Nghị Phù người xã Đức Lạp, huyện Lập Thạch, phủ Tam Đái, xứ Sơn Tây (nay thuộc xã Đức Bác, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc), đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1496), làm quan đến chức Đô Ngự sử.

Khoa thi năm Mậu Thìn (1508) đời Lê Uy Mục đúng ra ông đỗ Trạng nguyên, nhưng vì tướng mạo xấu, bài phú vua ra thêm để thử tài viết bằng chữ Hán khó hiểu hơn bài viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Giản Thanh (người làng Me) nên Hứa Tam Tỉnh chỉ xếp đỗ Bảng nhãn.

Trạng Bùng - Phùng Khắc Khoan người làng Phùng Xá, huyện Thạch Thất, thừa tuyên Sơn Tây (nay thuộc huyện Thạch Thất, Hà Nội). Ông là người có sức khỏe, thân hình vạm vỡ, lực lưỡng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét